nguvandhag

Sử dụng sơ đồ, biểu bảng vào giảng dạy một số tiết văn

Posted on: Tháng Ba 8, 2013

Hội thảo dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông. Nguồn: news.go.vn

Hội thảo dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông. Nguồn: news.go.vn

Sử dụng sơ đồ, biểu bảng vào giảng dạy một số tiết văn trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10

Nguyễn Thị Xuân Mai (1)

Ngày nay, việc sử dụng phương tiện trực quan vào dạy học nói chung và giảng dạy ngữ văn nói riêng đã trở thành vấn đề quen thuộc. Việc sử dụng phương tiện trực quan trong giảng dạy được áp dụng bằng nhiều cách thức, nhiều phương tiện mà mục đích cuối cùng là cải thiện và nâng cao chất lượng dạy học. Mục đích ấy có đạt được hay không còn tùy vào cách thức lựa chọn và sử dụng phương tiện trực quan của từng giáo viên.

Theo chân đoàn sinh viên thực tập, kiến tập, chúng tôi có dịp khảo sát một số giờ dạy Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay. Qua thực tế, chúng tôi nhận thấy, các phương tiện trực quan được các giáo viên phổ thông sử dụng thường là máy tính, máy chiếu, tranh ảnh, băng đĩa, trình bày bảng, diễn xướng (phân vai, diễn kịch…) Tất cả những phương tiện trực quan trên thực tế cũng đã góp phần khơi dậy hứng thú học tập của học sinh, phần nào cải thiện và nâng cao hiệu quả dạy học nhưng theo chúng tôi hiệu quả mang lại chưa cao. Lý do thứ nhất là do bản thân của những phương tiện trực quan nêu trên chỉ mang lại hứng thú ban đầu, tức thời (Ví dụ: xem tranh ảnh, nghe băng đĩa) chứ không có tác dụng nhiều trong việc tích cực hóa hoạt động của học sinh. Thứ hai là do cách thức lựa chọn, sử dụng phương tiện trực quan của giáo viên chưa phù hợp chẳng hạn như sử dụng tranh ảnh, băng đĩa tùy tiện, đối phó, gượng ép thì chẳng những không khơi gợi được hứng thú của người học mà không khéo còn làm thô thiển giờ văn. Vì vậy, chúng tôi nhận thấy còn một loại phương tiện trực quan nữa mà các giáo viên dạy văn ở phổ thông hiện nay rất ít sử dụng nhưng nó lại rất hiệu quả trong việc phát huy tính tích cực của học sinh, đánh thức khả năng tư duy ở người học, đó là  các sơ đồ, biểu bảng.

Dựa trên sự phân loại các sơ đồ biểu bảng trong dạy văn của PGS. TS Nguyễn Thị Hồng Nam, ứng dụng vào đơn vị cụ thể là các tiết văn trong chương trình SGK Ngữ văn 10, chúng tôi xin được phân các sơ đồ, biểu bảng theo thể loại tác phẩm và loại bài học. Như vậy, theo cách phân loại này, chúng ta sẽ có hai loại chính: một là, các sơ đồ biểu bảng sử dụng cho loại bài mang tính tổng quát, khái quát một phần, một chương; hai là, các sơ đồ, biểu bảng sử dụng cho các đơn vị tác phẩm riêng lẻ trong đó có loại sử dụng cho văn xuôi (truyện ngắn, tiểu thuyết…) và có loại phù hợp cho văn vần (thơ, truyện thơ…).

………………………………………………………………………………………………

 

Đối với những bài mang tính khái quát, chẳng hạn như bài “Tổng quan văn học Việt Nam” hay “Khái quát văn học dân gian Việt Nam”…, chúng ta có thể sử dụng các biểu bảng trống với vài chi tiết gợi ý để học sinh điền vào như sau:

……………………………………………………………………………………………

 

(1) Biểu bảng so sánh điểm khác nhau giữa hai bộ

 phận hợp thành của văn học Việt Nam (VHVN)

        2 Bộ phận    VHVN

 

Tiêu chí so sánh

Văn học dân gian Việt Nam

 

……………………………………………………………………………………………

 

Văn học Viết VN

Khái niệm …………………

………………………………………………………………………………………………

 

…………………

Thể loại ………………… …………………
Đặc trưng ………………… …………………

 

(2) Sơ đồ khái quát văn học dân gian Việt Nam

 

(1) Giảng viên BM Ngữ văn, khoa Sư phạm.

  Loại sơ đồ, biểu bảng trên có tác dụng phát huy năng lực nhận biết, so sánh, tổng hợp, khái quát ở học sinh, giúp học sinh khắc sâu bài học một cách hệ thống.

            Đối với những tác phẩm cụ thể như các tác phẩm truyện, ta cũng sẽ có những sơ đồ, biểu bảng tương ứng. Ví dụ như sơ đồ (3):  

Sơ đồ tóm tắt cốt truyện sau đây. Sơ đồ này ta có  thể sử dụng cho HS tóm tắt hầu hết các loại truyện trong chương trình. Từ truyện dân gian như An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy,Tấm Cám… đến những truyện trung đại như Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Chuyện  chức phán sự đền Tản Viên rồi đến tiểu thuyết

 chương hồi của Trung Quốc như Hồi trống cổ thành…và cả truyện sáng tác bằng thơ như Truyện Kiều.

 Ngoài ra, chúng ta có thể cho HS sơ đồ các tình tiết của cốt truyện đã bị xáo trộn và yêu cầu HS sắp xếp lại. Ví dụ biểu bảng (4) “Các tình tiết của truyện Tấm Cám” sau đây

Các tình tiết

Thứ tự đúng

1. Tấm, Cám bắt tép

1

2. Cám lừa lấy hết       còn cá bống

…….

3. Mẹ con Cám bắt bống ăn thịt

   .…..…

4. Dì ghẻ lừa Tấm chăn trâu đồng xa

………

5. Xương cá bống chôn       hóa thành đồ đẹp dự hội

………

6. Đánh rơi giày       Vua nhặt được

………

7. Vua mở hội      thử giày      Tấm làm hoàng hậu

………

8………………………………………….

………..

 

Hoặc nhờ HS điền vào những chi tiết của tác phẩm và phân tích ý nghĩa.

(5)                                                                                                       (6)

Số lần Bụt hiện ra Tình huống Kết quả Ý nghĩa
Lần 1 Cám lừa trút hết tép Cho cá bống  
……….. ………… …………
……….. …………. …………
……….. …………. ……..…..

 

Số lần hóa thân của Tấm

Vật hóa thân

Ý nghĩa

1

…………….

………………..

2

…………….

………………..

3

…………….

………………..

…….

…………….

………………..

 

 

 

Ngoài ra, ta còn có các sơ đồ dùng để khái quát hóa tính cách nhân vật và sơ đồ các chi tiết về nhân vật. 

 (7) Sơ đồ các chi tiết về Hưng Đạo Đại Vương                       (8) Sơ đồ khái quát tính cách Trương Phi

Hai loại sơ này dễ sử dụng cho các tác phẩm văn học viết vì ở truyện dân gian, nhân vật chưa được chú ý nhiều đến việc khắc họa nội tâm và cũng chưa có tính cách rõ rệt nên chúng ta rất khó áp dụng sơ đồ này.

            Đối với thơ dân gian như ca dao, sau khi học xong những bài “Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa”, GV có thể cho HS tìm những câu ca dao có cùng công thức truyền thống với các bài ca dao đã học theo sơ đồ (9) gợi ý: 

(9)

    Loại sơ đồ này (9) giúp HS phát triển khả năng nhớ, phát hiện để tìm được những câu ca dao có cùng công thức. Bậc cao hơn, chúng ta có thể cho HS rèn năng lực hiểu, vận dụng, sáng tạo bằng cách sử dụng sơ đồ trên để gợi ý HS sáng tác những câu ca dao có cùng công thức.

 
   

 

 

Câu đề

    Nội dung…..…………………………

  Nghệ thuật……………………………

 Câu thực

   Nội dung…..…………………………

  Nghệ thuật……………………………

 Câu luận

   Nội dung…..…………………………

 Nghệ thuật……………………………

 Câu kết

  Nội dung…..…………………………

 Nghệ thuật……………………………

Đối với truyện thơ như Truyện Kiều hay khúc ngâm như Chinh phụ ngâm, tác giả thường hay lột tả diễn biến tâm trạng nhân vật bằng hệ thống ngôn ngữ, hình ảnh thơ độc đáo. Vì thế, đối với loại bài này, ta sẽ sử dụng loại sơ đồ diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình (11) hoặc biểu bảng điền chi tiết miêu tả tâm trạng (12).                                                                        

 

Hình ảnh

Ý nghĩa

Thước chẳng mách tin

Không nhận được tin chồng

………………………

……………….

………………………

……………….

………………………

……………….

 

 

GĐ1

 

                …………………………..

                …………………………..

 GĐ2

                 …………………………..

                …………………………..

 GĐ3

                 …………………………..

                …………………………..

                            

 

  (11) Sơ đồ diễn biến tâm trạng Kiều                    (12) Hình ảnh gợi tả nỗi nhớ của chinh phụ

 Nhìn chung, việc sử dụng sơ đồ, biểu bảng trong dạy học nói chung và trong dạy văn nói riêng mang lại nhiều lợi ích. Lợi ích trước hết là tác dụng khơi gợi hứng thú học tập ở HS, phát huy tính tích cực, chủ động ở người học. Bởi lẽ, nếu không sử dụng sơ đồ biểu bảng, chúng ta sẽ phải liên tục đặt ra những câu hỏi có vấn đề để HS giải quyết. Như vậy, HS sẽ dễ cảm thấy nhàm chán, kiến thức sẽ bị chẻ nhỏ, rời rạc theo từng câu hỏi. Trái lại, khi chúng ta đưa ra những sơ đồ tư duy như trên, HS sẽ hứng thú hơn bởi mỗi lần giải quyết, hoàn thành một sơ đồ, HS sẽ có cảm giác như mình được tham gia vào một trò chơi thú vị. Quá trình tư duy, giải quyết yêu cầu đặt ra của sơ đồ, biểu bảng lúc này được xem như một hành trình chinh phục, khám phá và khi hoàn thành sơ đồ, biểu bảng, HS sẽ cảm thấy hứng khởi vì mình đã chinh phục được thử thách, vui với cảm giác thành công và chiến thắng. Bên cạnh đó, một lợi ích đáng kể nữa của việc sử dụng phương tiện này là giúp HS hiểu bài sâu hơn, nhận rõ mối quan hệ giữa các kiến thức. Từ đó, HS sẽ nhớ lâu hơn. Và lợi ích quan trọng hơn hết đó là  rèn cho HS năng lực tư duy, khái quát vấn đề. Kiến thức được lưu giữ dưới hai dạng: ngôn ngữ và hình ảnh. Sử dụng sơ đồ, biểu bảng cũng là một dạng hình ảnh trực quan kết hợp với ngôn ngữ sẽ giúp HS lưu giữ kiến thức một cách khoa học, bền vững. Hơn nữa, một nguyên tắc quan trọng trong dạy học là “Tôi nghe- tôi quên, tôi nhìn- tôi nhớ, tôi làm- tôi hiểu”. Vì vậy, sử dụng sơ đồ, biểu bảng tư duy như trên là một cách để giáo viên giúp HS của mình nhớ và hiểu vấn đề một cách sâu sắc bởi HS được trực tiếp quan sát và tự mình phát hiện hoàn chỉnh những kiến thức ấy.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

 1. Lê Phước Lộc(2004), Lý luận dạy học, MHO4 Project (1996- 2004), ĐH Cần Thơ.

2. Nguyễn Thị Hồng Nam (2011), Đề cương bài giảng PPDH Ngữ văn, ĐH Cần Thơ.

3. Trần Đình Châu (9-2009), Sử dụng bản đồ tư duy – một biện pháp hiệu quả hỗ trợ HS học tập môn toán, Tạp chí Giáo dục, kì 2.

4. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy (2011), Dạy tốt – học tốt các môn học bằng bản đổ tư duy, Nxb Giáo dục Việt Nam.

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: