THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH SINH HOẠT NGOẠI KHÓA ÔN TẬP VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1975 LỚP 12 THPT

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH SINH HOẠT NGOẠI KHÓA

ÔN TẬP VĂN HỌC VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1945 – 1975

LỚP 12 THPT

 I. PHẦN DẪN NHẬP:

  1. Lý do chọn đề tài:

-          Bài ôn tập văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định phương hướng ôn tập và hệ thống hóa kiến thức cho đối tượng học sinh lớp 12 phổ thông trung học chuẩn bị cho kỳ thi tú tài và thi vào Đại học. Bài này liên quan đến cả phần 4 Văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 bao gồm 37 tiết trên tổng số 46 tiết giảng văn và văn học sử, chiếm hơn 80% thời lượng chương trình phân môn Văn học. Giúp học sinh nắm vững toàn bộ giai đoạn văn học quan trọng này đó là mục đích của chương trình sinh hoạt ngoại khóa này.

-          Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học môn văn ở trường Trung học phổ thông, nhằm khơi gợi hứng thú học tập tốt môn văn ở học sinh, đề tài này có tác dụng như là một gợi ý thiết thực phần nào giúp giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở trường phố thông có thể tham khảo và ứng dụng nếu có điều kiện.

-          Đối với sinh viên khoa sư phạm – những người sẽ trở thành giáo viên trong tương lai (đặc biệt là sinh viên ngành Ngữ văn năm cuối Đại học đã qua học phần văn học Việt Nam hiện đại), có thể học hỏi phương pháp tổ chức một buổi sinh hoạt ngoại khóa để sau này ứng dụng trong thực tế giảng dạy ở trường phổ thông.

  1. Phạm vi nghiên cứu – thực hiện:

Dựa vào quá trình giảng dạy lớp 12 PTTH trong thời gian 12 năm và những kinh nghiệm bản thân đã tích lũy và thu thập được từ thực tế giảng dạy, nay tôi xin được thiết kế một chương trình sinh hoạt ôn tập ngoại khóa mà chủ yếu khai triển từ các bài đã học trong chương trình môn văn lớp 12. Cụ thể là:

-          Khái quát về văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975.

-          Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh)

-          Đôi mắt (Nam Cao)

-          Tây Tiến (Quang Dũng)

-          Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm)

-          Đất nước (Nguyễn Đình Thi)

-          Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)

-          Vợ nhặt (Kim Lân)

-          Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên)

-          Các vị La Hán chùa Tây phương (Huy Cận)

-          Mùa lạc (Nguyễn Khải)

-          Tố Hữu

-          Việt Bắc (Tố Hữu)

-          Kính gửi cụ Nguyễn Du (Tố Hữu)

-          Nguyễn Tuân

-          Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)

-          Rừng Xà nu (Nguyễn Trung Thành)

-          Sóng (Xuân Quỳnh)

-          Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu)

-          Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)

Đọc thêm:

-          Thời và thơ Tú Xương (Nguyễn Tuân)

-          Huệ Chi trước lễ cưới (Nguyên Hồng)

-          Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)

-          Ôn tập

 

  1. Kết cấu của đề tài:

Đề tài chia làm 3 phần:

-          Phần dẫn nhập: Đặt vấn đề, giới thiệu lý do chọn đề tài, phạm vi thực hiện đề tài và kết cấu của đề tài.

-          Phần nội dung: Gồm có 3 phần chính (Phần chuẩn bị, phần tiến hành thực hiện và phần tổng kết rút kinh nghiệm)

-          Phần kết luận:Nêu hiệu quả của sáng kiến và một vài đề xuất liên hệ.

-          Cuối cùng là danh mục tư liệu tham khảophần phụ lục một số câu hỏi trắc nghiệm, bài tập, trò chơi…

II. PHẦN NỘI DUNG:

  1. Phần chuẩn bị:
    1. Về kiến thức:

Đây là một chương trình sinh hoạt ngoại khóa kết thúc một giai đoạn chiếm một dung lượng lớn trong chương trình môn văn ở lớp 12. Vì vậy khối lượng kiến thức phải ôn tập là khá lớn (20 bài và 3 bài đọc thêm). Nếu không có sự chuẩn bị tốt về mặt thời gian thì hiệu quả của chương trình sinh hoạt ôn tập ngoại khóa sẽ khó đạt được như ý muốn.

Giáo viên dựa theo bảng phân phối chương trình, ấn định kế hoạch tổ chức ngoại khóa (thường vào trước khi thi học kỳ 2 khoảng 2 tuần) và thông báo cho học sinh chuẩn bị ít nhất là 2 đến 3 tuần trước khi tiến hành thực hiện.

Cụ thể là:

-          Thông báo hình thức sinh hoạt (sẽ được trình bày ở phần sau)

-          Phân công ban cán sự lớp và ban cán sự môn học tổ chức, theo dõi và đôn đốc quá trình thực hiện cho đúng tiến độ.

-          Cho câu hỏi theo từng bài học (những câu hỏi này thực ra đã được giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện trước và sau mỗi bài học)

-          Yêu cầu học sinh học thuộc lòng tất cả các tác phẩm thơ và biết tóm tắt các tác phẩm văn xuôi.

-          Hướng dẫn cho cán sự môn kết hợp với các tổ trưởng thực hiện bảng tổng hợp về tác giả – tác phẩm có trong chương trình ôn tập theo hệ thống (Về tác giả, hệ thống lại tiểu sử, sự nghiệp văn học, quan điểm và phong cách sáng tác. Về tác phẩm, hệ thống lại thể loại, xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, đại ý, chủ đề, những giá trị nội dung và nghệ thuật chính)

-          Phát động một cuộc thi vẽ tranh lấy cảm hứng từ một số đoạn trích trong các tác phẩm tự sự (truyện và ký) giai đoạn 1945 – 1975. Điều này vừa tạo điều kiện cho một số học sinh có năng khiếu có cơ hội thử sức mình, vừa giúp các em cảm nhận sâu hơn tác phẩm đã học dưới một góc độ tiếp cận khác. Những bức tranh xuất sắc nhất lớp sẽ được sử dụng minh họa cho phần thi hùng biện của từng lớp.

-          Phát động cho học sinh tự soạn ra một số câu hỏi (và tất nhiên là nộp kèm cả đáp án) về bất cứ một kiến thức nào liên quan đến phần ôn tập. Giáo viên sẽ chọn ra một số câu hỏi hay nhất (nhưng không trùng nhau giữa các lớp) để đưa vào phần thi đố giao lưu của các lớp với nhau.

-          Chọn mỗi lớp một số học sinh có năng khiếu diễn xuất, chuyển thể một số đoạn trích hay, có kịch tính trong các tác phẩm truyện ký có trong chương trình, cho các em tập dượt để dự thi phần diễn tiểu phẩm

    1. Về nội dung và hình thức của chương trình sinh hoạt ôn tập ngoại khóa:

Lập bảng kế hoạch chi tiết cho chương trình. Sau đây là bảng kế hoạch mẫu để gợi ý, tham khảo:

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO             CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG…………………                                  Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

KẾ HOẠCH TỔ CHỨC CHƯƠNG TRÌNH SINH HOẠT

NGOẠI KHÓA ÔN TẬP VĂN HỌC VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1945 – 1975

 

            Căn cứ vào…..

            Xuất phát từ….

            Nay, tôi là …….                                    giáo viên tổ bộ môn Văn…

            Kính trình lên ban Giám hiệu nhà trường kế hoạch tổ chức chương trình sinh hoạt ngoại khóa ôn tập văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 như sau:

I. MỤC ĐÍCH:

-          Gây hứng thú học tập môn văn ở trường phổ thông.

-          Tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận kiến thức cơ bản về giai đoạn này bằng những hình thức sinh hoạt phong phú.

-          Ôn tập những kiến thức đã học và chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi học kỳ hai, thi tốt nghiệp THPT sắp tới (Riêng một số học sinh đăng ký dự thi  đại học Khối C cũng nhân cơ hội này ôn tập kỹ hơn những kiến thức văn học đã học phục vụ cho kỳ thi)

II. ĐỐI TƯỢNG THAM DỰ:

            Học sinh khối 12 ( Lý tưởng nhất là 3 hoặc 4 lớp. Nếu số lượng lớp 12 ở trường đông hơn thì có thể tổ chức thành nhiều vòng thi, sau đó chọn khoảng 3 lớp vào chung kết. Tất nhiên trong trường hợp này công sức huy động sẽ nhiều hơn, kinh phí cho chương trình sinh hoạt ngoại khóa sẽ cao hơn, “ngân hàng” câu hỏi sẽ phải được biên soạn nhiều hơn. Cho nên, có thể tổ chức ở quy mô tổ bộ môn cho toàn khối 12 hoặc giáo viên bộ môn tổ chức riêng theo các lớp do mình phụ trách)

III. NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC:

Chương trình sinh hoạt ngoại khóa sẽ được tổ chức chia làm hai phần, ứng với hai buổi học (Giáo viên có thể tổ chức vào ngày chúa nhật để bảo đảm không bị mất giờ học tập của học sinh. Hơn nữa, đây như một cuộc chơi để học nên chọn ngày chúa nhật cả thầy lẫn trò đều cảm thấy thoải mái)

            Chương trình buổi sáng: TRÒ CHƠI LỚN.

            Cả bốn đội (tương đương với học sinh của bốn lớp) tập hợp ngay điểm xuất phát đã được giáo viên tổ chức định trước.

            Cả bốn lớp sẽ nhận được một mật thư hướng dẫn lên đường để đi đến trạm đầu tiên. Ở đó, cả đội sẽ phải tham dự vào một trò chơi chủ yếu là để kiểm tra kiến thức đã học (Những trò chơi này sẽ được đưa vào phần phụ lục cho giáo viên tham khảo). Sau đó, người đứng trạm sẽ phân phát những câu hỏi theo kiểu trắc nghiệm đã được pho to thành nhiều bản (mỗi bảng câu hỏi đủ cho một nhóm học sinh khoảng 3 đến 4 em để tiện cho việc thảo luận nhằm chọn lựa những câu trả lời đúng nhất). Khi toàn đội đã hoàn tất các câu hỏi, các em sẽ nộp lại các bài làm trắc nghiệm trong một túi phong bì cho người đứng trạm. Sau đó, đội trưởng sẽ nhận một mật thư khác để tiếp tục lên đường sang trạm thứ 2. Cứ thế, tiếp tục tương tự ở trạm thứ 3 và thứ 4 để cuối cùng, đội nào về đích trước sẽ được cộng thêm 5 điểm vào tổng điểm các bài tập trắc nghiệm mà ban cố vấn đã chấm điểm xong.

            Chương trình buổi chiều: TRÒ CHƠI GIAO LƯU

                        Lưu ý có ấn định thời gian giới hạn cho mỗi phần thi

            Phần 1: Chào hỏi giữa các đội (Giới thiệu tên đội gắn với kiến thức về bài học – khuyến khích hình thức sân khấu hóa)       

Phần 2: Giao lưu câu hỏi (đố luân phiên nhau giữa các lớp. Những câu hỏi đã được giáo viên bộ môn chọn lọc.

Phần 3: Thực hiện một hành động mô phỏng động tác của một nhân vật nào đó (theo kiểu diễn kịch câm) Đội còn lại sẽ đoán tên nhân vật, tác phẩm, tác giả, hành động gì?

Phần 4: Hùng biện theo kiểu phân tích một trích đoạn (thể hiện bằng tranh vẽ của lớp bạn)

Phần 5: Thi diễn tiểu phẩm.

Giám khảo tổng kết cho điểm – Phát thưởng cho các đội.

IV. GIẢI THƯỞNG: Tùy theo kinh phí của trường mà khuyến khích tinh thần học tập của học sinh.

V. THÀNH PHẦN BAN TỔ CHỨC- BAN GIÁM KHẢO VÀ BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC:

  1. Ban tổ chức:
  2. Ban giám khảo:
  3. Phân công công việc cụ thể:

-          Đứng trạm 1,2,3,4 (4 người):

-          Đứng ở điểm xuất phát và điểm đích:

-          Đứng trên đường di chuyển để kiểm tra lộ trình của các đội (4 người):

-          Biên soạn câu hỏi, hướng dẫn trong mật thư, pho to tài liệu:

-          Chuẩn bị phần thưởng:

-          Chuẩn bị phòng ốc, âm thanh, ánh sáng, vệ sinh, nước uống…

VI. DỰ TRÙ KINH PHÍ:

                                                                                                Người lập kế hoạch

                                                                                                Ký tên

 

    1. Theo dõi và phân công ở lớp:

-          Đội trưởng (thường là lớp trưởng) chịu trách nhiệm chung.

-          Ban cán sự lớp, cán sự bộ môn phụ trách phần biên tập câu hỏi, đôn đốc và theo dõi quá trình thực hiện, làm cố vấn chuyên môn cho các phần chuẩn bị dự thi.

-          Biên soạn và dàn dựng phần chào hỏi, một hành động nhân vật và một tiểu phẩm

-          Chọn mỗi lớp một học sinh cho phần thi hùng biện.

-          Đăng ký một tiết mục văn nghệ (bài hát cách mạng) hoặc ngâm thơ (giai đoạn này) để tham gia phụ diễn.

-          Cả lớp đều phải chuẩn bị bài tốt để thi đua với lớp khác.

  1. Phần thực hiện:
    1. Phần trò chơi lớn:

Giáo viên hoàn toàn có thể tận dụng khuôn viên của trường để thực hiện cho phần trò chơi lớn (Nếu có điều kiện, giáo viên có thể đưa học sinh đến một điểm tham quan nào đó kết hợp sinh hoạt ngoại khóa với dã ngoại. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, số lượng học sinh tham gia khá đông – 40 em / 1 lớp / 4 lớp – nên vấn đề quản lý học sinh có thể phức tạp hơn).

Giáo viên cần thực hiện các công việc như sau:

-          Xác định phạm vi và khu vực trong khuôn viên trường ứng với không gian của một số tác phẩm trong chương trình để tạo không khí cho trò chơi (học sinh có cảm giác mình được bước vào trong những tác phẩm đã học). Ở đây xin đưa ra một vài gợi ý :

+ Khu vực tầng lầu: Được xác định là không gian Trường Sơn của tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng”.

+ Khu vực trồng nhiều cây của trường: Được xác định là không gian Tây  Nguyên trong tác phẩm “Rừng Xà nu”.

+ Khu tập thể : Được xác định là không gian Mỏ Cày- Bến Tre trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”.

+ Khu vực khoảng trống bên cạnh trường: Được xác định là không gian nông trường Điện Biên trong tác phẩm “Mùa lạc”.

-          Sáng tác mật thư hướng dẫn đường đi cho các đội khi di chuyển từ trạm này qua trạm khác. Mỗi một nội dung ứng với một mật thư sẽ được pho to ra thành 4 bản để trong trò chơi người đứng trạm sẽ lần lượt phân phát cho bốn nhóm (Nhóm trưởng sẽ dựa vào đó mà hướng dẫn cả đội đi đúng sự chỉ định vào những khu vực không gian tác phẩm đã được thông báo trước). Sau đây là một vài gợi ý:

+ Mật thư 1: Đi tìm đội sản xuất số 6 ở nông trường Điện Biên, cùng thu hoạch lạc (đậu phộng), thấy hàng rào dây thép gai, hỏi thăm chị Đào, quê ở Hưng Yên[1]

+ Mật thư 2: Đến cây xà nu cạnh con nước lớn, tìm đường vào làng Xô man, tiếp tế lương thực cho cụ Mết (mật thư này kèm theo yêu cầu trên đường chạy, cả đội vừa chạy vừa tìm kiếm một số giáo mác nộp cho người đóng vai cụ Mết đứng trực ở trạm này)  

+ Mật thư 3:  Vượt Trường Sơn, chú ý đoạn đường có máy bay (cả đôi vừa khom người vừa chạy), gặp Lãm nhận một sợi chỉ xanh, hỏi thăm đội nữ thanh niên xung phong ở ngầm Đá Xanh, tìm gặp Nguyệt đang chờ ở đó.

+ Mật thư 4: Về Bến Tre, đến Mỏ Cày, hỏi thăm nhà vợ Tư Năng, nhận cho đội một lá cờ giải phóng để đi đấu tranh trên quận, rồi tìm đồng đội Việt đang bị thương lạc ở chiến trường.

                        + Mật thư cuối cùng: Về đích (tại điểm xuất phát)

-          Hoạch định sơ đồ đường đi các đội (hình dung đường đi của từng đội ngay từ điểm xuất phát, tránh trường hợp cả hai đội dồn vào cùng một đường di chuyển, sẽ đưa đến tình trạng rối rắm đội hình, gây mất trật tự):

+ Đội số 1:      Vòng 1: Từ điểm xuất phát đến trạm số 1

                        Vòng 2:  Từ trạm số 1 đến trạm số 2

                        Vòng 3: Từ trạm số 2 đến trạm số 3

                        Vòng 4: Từ trạm số 3 đến trạm số 4

                        Vòng 5: Từ trạm số 4 về đích (tại điểm xuất phát)

+ Đội số 2:      Vòng 1: Từ điểm xuất phát đến trạm số 2

                        Vòng 2:  Từ trạm số 2 đến trạm số 3

                        Vòng 3: Từ trạm số 3 đến trạm số 4

                        Vòng 4: Từ trạm số 4 đến trạm số 1

                        Vòng 5: Từ trạm số 1 về đích (tại điểm xuất phát)

+ Đội số 3:      Vòng 1: Từ điểm xuất phát đến trạm số 3

                        Vòng 2:  Từ trạm số 3 đến trạm số 4

                        Vòng 3: Từ trạm số 4 đến trạm số 1

                        Vòng 4: Từ trạm số 1 đến trạm số 2

                        Vòng 5: Từ trạm số 2 về đích (tại điểm xuất phát)

+ Đội số 4:      Vòng 1: Từ điểm xuất phát đến trạm số 4

                        Vòng 2:  Từ trạm số 4 đến trạm số 1

                        Vòng 3: Từ trạm số 1 đến trạm số 2

                        Vòng 4: Từ trạm số 2 đến trạm số 3

                        Vòng 5: Từ trạm số 3 về đích (tại điểm xuất phát)

-          Bố trí vị trí các trạm, phân công người đứng trạm và người đứng kiểm tra ở khoảng cách giữa các trạm:

+ Trạm số 1: Bố trí ở khu vực không gian tác phẩm Mùa lạc. Người đứng trạm đóng vai Đào (hóa trang bằng 1 cái khăn vải kẻ ô vuông như trong tác phẩm), sẽ nhận 1 gói đậu phộng của lần lượt từng đội mang đến để biết được các đội đã đi đúng hướng dẫn của mật thư. Người đứng trên đường đi sẽ kiểm diện quân số và phát một gói đậu phộng cho đội trưởng.

+ Trạm số 2: Bố trí ở khu vực không gian tác phẩm Rừng Xà nu. Người đứng trạm đóng vai cụ Mết (hóa trang thành người dân tộc ở Tây Nguyên), sẽ nhận những chiếc bong bóng đã được thổi lên để biết được các đội đã đi đúng hướng dẫn của mật thư. Người đứng trên đường đi sẽ kiểm diện quân số và phát một túi bong bóng chưa thối cho đội trưởng.

+ Trạm số 3: Bố trí ở khu vực không gian tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng. Người đứng trạm đóng vai Nguyệt (hóa trang thành Nguyệt với hai bím tóc dày, áo xanh chít hông vừa khít, quần đen, dép cao su sạch sẽ), sẽ nhận một sợi chỉ xanh để biết được các đội đã đi đúng hướng dẫn của mật thư. Người đứng trên đường đi đóng vai Lãm sẽ kiểm diện quân số và phát một sợi chỉ xanh cho đội trưởng.

+ Trạm số 4: Bố trí ở khu vực không gian tác phẩm Những đứa con trong gia đình. Người đứng trạm đóng vai Việt (hóa trang thành một anh tân binh với trang phục bộ đội, nón tai bèo…), sẽ nhận một lá cờ giải phóng để biết được các đội đã đi đúng hướng dẫn của mật thư. Người đứng trên đường đi đóng vai vợ tư Năng sẽ kiểm diện quân số và phát một lá cờ giải phóng cho đội trưởng.

-          Biên soạn câu hỏi cho 4 vòng trả lời ở 4 trạm (Phần này, chúng tôi sẽ soạn ra một số bảng câu hỏi mang tính chất gợi ý ở phần phụ lục của sáng kiến này). Giáo viên pho to ra mỗi bảng câu hỏi thành nhiều bảng (sao cho khi đến trạm, cứ 2 đến 3 học sinh sẽ có một bảng câu hỏi để thảo luận và trả lời, tránh trường hợp chỉ có một số em làm việc tích cực còn những em khác thì đứng ngoài cuộc). Sau đó giáo viên cho những câu hỏi đã pho to vào một phong bì lớn, cứ một mẫu là có 4 phong bì cho bốn đội, giao cho người đứng trạm sẽ phân phát cho học sinh làm bài khi đến trạm của mình.

-          Sinh hoạt nội quyluật chơi cho tất cả bốn đội (tập hợp tại điểm xuất phát), giải đáp thắc mắc và thông báo thêm một số quy định phát sinh khác trước khi bắt đầu cuộc chơi:

+ Đội trưởng đi đầu, hội ý giải đáp hướng dẫn trong mật thư và đưa cả đội đi tìm trạm đến của mình.

+ Bảo đảm quân số, tham gia trò chơi hết mình, vui vẻ, nhiệt tình nhưng không quậy phá, mất trật tự, kỷ luật.

+ Tập trung đúng giờ, không nói chuyện ồn ào khi giáo viên sinh hoạt.

+ Thực hiện tốt tuyệt đối các yêu cầu của người đứng trạm và trên đường đến trạm.

+ Chỉ mang theo viết ,không mang theo tập, sách, đề cương, tài liệu…

+ Về hình thức trang phục, có thể linh động sáng tạo ra một số dấu hiệu đồng loạt nào đó thống nhất cho đội (làm mão đội, cắt giấy cứng ghi tên lớp gắn trên ngực áo, buộc dây ngang cổ tay…)

+ Tham gia trung thực, hết mình, thi đua trong sáng không gian lận, không hơn thua, mất đoàn kết…

-          Bắt đầu tiến hành: Tất cả 4 đội tập trung tại điểm xuất phát. Sau khi sinh hoạt một lần cuối cùng nội quy và luật chơi, người đứng tram xuất phát đồng loạt trao 4 mật thư cho 4 đội (Lưu ý 4 mật thư ghi 4 hướng dẫn khác nhau để đi đến 4 trạm khác nhau). Chúng ta có thể hình dung trò chơi đang diễn ra như sau:

Cả 4 đội vào cuộc với sự hướng dẫn của 4 mật thư. Hành trình của 4 đội thật sự đã nhập vào trong không khí của các tác phẩm văn học với các nhân vật văn học bằng xương bằng thịt. Cùng lúc 4 đội sẽ tìm đến 4 trạm trong một khoảng thời gian tương đương nhau.

+ Ở trạm 1 (Tạm gọi là trạm Mùa lạc): Người đứng trạm đóng vai nhân vật Đào sẽ yêu cầu cả đội tập hợp theo vòng tròn. Sau vài bài hát tập thể, cả đội sẽ được kiểm tra miệng phần đọc thơ (những bài thơ có trong giai đoạn 1945 – 1975). Tất nhiên, không thể nào kiểm tra hết được cả đội mà người đứng trạm chỉ có thể chỉ định bất cứ một thành viên nào của đội trong vòng tròn. Thời gian sẽ bị chậm lại, ảnh hưởng đến chuyến về đích nếu như các thành viên không thuộc thơ (Quy định rằng nếu một thành viên không thuộc thì sẽ phải kiểm tra bù bằng ba thành viên khác). Sau phần kiểm tra thuộc lòng thơ, người đứng trạm sẽ phát ra một phong bì câu hỏi trắc nghiệm (đã được pho to ra nhiều bản). Cả đội thảo luận, làm bài thẳng vào đề, chọn ra một bài làm mẫu (đánh dấu) rồi nộp tất cả các bài làm cho người đứng trạm. Cuối cùng, đội trưởng nhận mật thư mới và tiếp tục lên đường.

+ Ở trạm 2 (Tạm gọi là trạm Rừng xà nu): Tất cả công việc cũng diễn ra tương tự như ở trạm 1. Tuy nhiên có sự thay đổi là phần kiểm tra kiến thức không phải là đọc thuộc lòng thơ mà là tóm tắt một tác phẩm văn xuôi đã học theo sự chỉ định bất ngờ của người đứng trạm. Nếu một thành viên nào đó không thuộc thì người đứng trạm có quyền yêu cầu một thành viên khác lập lại từ đầu.

+ Ở trạm 3 (Tạm gọi là trạm Mảnh trăng cuối rừng): Tương tự công việc của hai trạm nêu trên nhưng phần kiểm tra kiến thức lần này là trò chơi gọi tên tác giả – gọi tên tác phẩm (Tất nhiên là những tác giả và tác phẩm đã học – Trò chơi này cả đội tập hợp thành vòng tròn, mỗi người chọn lấy cho mình một tác giả, khi được một bạn khác gọi tới, nếu là tên tác giả, người được gọi phải dùng tên tác phẩm của tác giả đó gọi đi một bạn khác – cứ thế, trò chơi lấy tiết tấu nhanh làm tính hấp dẫn. Ai ngập ngừng, hoặc đọc nhầm thì vào đứng giữa vòng chịu phạt).

+ Ở trạm 4 (Tạm gọi là trạm Những đứa con trong gia đình): Tương tự công việc của ba trạm trên. Phần trò chơi, cả đội chia làm bốn nhóm và chơi trò phát loa. Trò chơi này phải thể hiện sự chính xác, hợp lý. Nội dung phát loa theo quy định là nhóm 1: Thời gian; nhóm 2: Không gian; nhóm 3: Nhân vật; nhóm 4: Hành động[2]

-          Cứ thế, lần lượt các đội di chuyển đến những trạm còn lại mà giáo viên đã tính toán sao cho các đội không cùng lúc dồn về một trạm gây khó khăn trong vấn đề quản trò của người đứng trạm. Ở nơi về đích, giáo viên có thể trực tiếp có mặt ở đó đón các đội hoàn thành phần thi và trở về đích. Giáo viên ghi điểm theo số thứ tự (đội về nhất cộng 5 điểm, đội về nhì cộng 3 điểm, đội về 3 cộng 2 điểm, và đội về sau cùng cộng 1 điểm)

 

  1. b.      Phần giao lưu:

-          Phần chào hỏi (10 điểm): Các đội lần lượt giới thiệu về đội mình trong vòng 5 phút. Có thể theo hình thức sân khấu hóa. Cần bảo đảm các nội dung như: Tên đội và ý nghĩa, thành viên của đội, mục đích cuộc chơi…

-          Phần giao lưu câu hỏi (20 điểm): Các đội lần lượt thay phiên nhau đố giao lưu bằng các câu hỏi của đội tự soạn. Nếu trả lời đúng, đội bạn sẽ ghi 5 điểm/1 câu. Nếu trả lời sai thì không có điểm, đội ra câu hỏi sau 5 phút chờ đợi, sẽ đọc đáp án thật to để giải đáp cho đội bạn.

-          Phần diễn động tác, đoán nhân vật (10 điểm): Mỗi đội cử ra một bạn thực hiện mô phỏng một động tác nào đó của một nhân vật tự chọn trong các tác phẩm truyện và ký đã học (thể hiện giống như là một tiểu phẩm kịch câm ngắn). Đội bạn quan sát và trả lời các yêu cầu như tên tác phẩm, tên tác giả, tên nhân vật, hành động nhân vật đó là hành động gì?

-          Phần thi hùng biện (10 điểm): Đội bạn sẽ đưa ra một tranh vẽ (Từ cuộc thi vẽ tranh). Đội dự thi sẽ cử ra một bạn dựa vào nội dung bức tranh thể hiện, thuyết trình (thời gian 5 phút).

-          Phần diễn tiểu phẩm (10 điểm): Số lượng không hạn chế, thời gian quy định là 10 phút. Nội dung là một trích đoạn trong các tác phẩm đã học. Giám khảo khuyến khích các đội có hóa trang, đánh giá cao diễn xuất tự nhiên.

Chú ý, do có nhiều đội dự thi, giáo viên cần sắp xếp hợp lý giữa các vòng thi, có thể đi từ vòng loại trực tiếp đến chung kết xếp hạng.

3.  Phần tổng kết, rút kinh nghiệm:

-  Nếu có kinh phí, giáo viên có thể phát giải thưởng theo hai phần thi: Trò chơi lớn (buổi sáng) và phần thi giao lưu (buổi chiều).

-  Trước khi phát thưởng, giáo viên cần tổng kết ngắn gọn nhưng đầy đủ về các vấn đề như:

+ Giải đáp câu hỏi ở các vòng thi kết hợp hệ thống hóa kiến thức (photo)

+ Nhận xét và khích lệ tinh thần dự thi của các đội.

+ Phê bình nhẹ nhàng nhưng kiên quyết những trường hợp làm ảnh hưởng đến buổi sinh hoạt ngoại khóa (nếu có).

+ Có thể bình chọn những cá nhân xuất sắc.

III. PHẦN KẾT LUẬN:

            Chương trình sinh hoạt ngoại khóa này, chúng tôi đã ứng dụng ở 3 trường phổ thông cho khối lớp 12. Đó là các trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm – Châu Thành, trường TH Bán công Khuyến Học và trường TH Bán công Minh Đức. Kết quả thể hiện thuyết phục nhất ở kỳ thi tú tài. Do được chuẩn bị ôn tập tốt bằng hình thức ngoại khóa sinh động và hấp dẫn, học sinh nhớ được khá nhiều kiến thức cơ bản phục vụ tốt cho kỳ thi. Thống kê kết quả tốt nghiệp trong các năm học có tổ chức ngoại khóa cho thấy tỷ lệ điểm môn văn trên trung bình luôn ở mức cao. Đặc biệt, năm học 1995 – 1996, tất cả học sinh khối 12 ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, môn văn đều từ 5 điểm trở lên.

            Trong tình hình dạy và học môn văn hiện nay ở trường phổ thông, yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy luôn là nỗi bức xúc của đội ngũ cán bộ giảng dạy tâm huyết. Làm sao mang đến cho các em lòng say mê và sự yêu thích thật sự môn học của mình ? Làm sao những giờ văn, các em không còn cảm thấy khô khan và tiếp thu kiến thức một cách hoàn toàn thụ động ? Sáng kiến này như một đóng góp rất nhỏ vào mong ước giải đáp một phần những câu hỏi đó. Cá nhân tôi, từ thực tế giảng dạy ở trường phổ thông rất mong sáng kiến này của mình có thể ứng dụng cho giờ ôn tập giai đoạn văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 .Và những thiếu sót chắc chắn không thể tránh khỏi, mong được đóng góp chân tình để đề tài sẽ được hoàn thiện hơn.

            Cuối sáng kiến này là phần phụ lục gợi ý một số câu hỏi chỉ có tính chất tham khảo. Mục đích của chúng tôi khi biên soạn các câu hỏi này có hướng đến tính chơi và học của học sinh. Dù một số câu hỏi khá xa lạ với các kỳ thi nhưng để trả lời được chúng, yêu cầu học sinh phải đọc và học thật kỹ các tác phẩm có trong chương trình. Vì vậy, giáo viên có thể biên soạn phù hợp với đối tượng cụ thể.

.PHẦN PHỤ LỤC:

MẪU BÀI TẬP SỐ 1 Ở TRẠM MÙA LẠC

I.PHẦN TRẮC NGHIỆM:

1. Năm sinh – năm mất của Bác?

a. 1890-1970               b. 1892-1969               c. 1890- 1969              d. Tất cả đều sai

2. Quê của nhà thơ Quang Dũng ?

a. Hà Nội                     b. Hà Tây                     c. Hà Đông                  d. Hà Bắc

3. Tên thật của Hoàng Cầm ?

a. Bùi Văn Việt b. Bùi Tăng Việt           c. Bùi Tằng Việt           d. Tất cả đều sai

4. Nam Cao là nhà văn:

a. hiện thực phê phán b. Tư sản trước CM    c. CM sau CM             d.Tất cả đều đúng

5.Nguyễn Minh Châu bắt đầu viết truyện ngắn từ năm

a. 1950                        b. 1951                        c. 1954                        d. 1959

6. Năm sinh – năm mất của Kim Lân ?

a.1920-1980                b.1920-1985                c. 1920-1990               d.1920- chưa mất

7. Nguyễn Đình Thi sinh ở:

a. Lào                          b. Campuchia             c. ViệtNam                 d. Thái Lan

8.Năm sinh – năm mất của Nguyễn Tuân ?

a. 1910-1985               b. 1910-1987               c. 1910-1989               d. 1910-chưa mất

9. Ngắn gọn – trong sáng – giản dị là phong cách của

a. Hồ Chí Minh b. Tố Hữu                    c. Nguyễn Tuân           d. Tất cả đều sai

10. Bút danh Nguyên Ngọc có từ thời

a. Trước 1945             b. 1945-1954               c. 1954- 1975              d. Sau 1975

II.PHẦN CÂU HỎI

1. Tìm nhân vật có những cánh tay, bàn tay sau đây:

-Tayvân vê tà áo.

-Taynhư hai cánh lim chắc.

-Tayđeo đầy những nhẫn

-Tayto bản

-Tayxoay đi xoay lại vội vã

-Taylêu nghêu như cái sào

-Taykềnh kệnh ra hai bên

-Taynặng trịch như một cái kìm sắc

-Taykhoác chiếc làn và chiếc nón trắng mới

-Taycuồn cuộn những thớ thịt cháy nắng.

2. Ai là người biểu diễn những câu hát điệu hò sau đây:

- Tháng giêng phay phảy gió may

Tháng hai gió bấc, tháng ba gió nồm.

- Tình ca Tây Bắc.

- Ta không có con trai con con gái

Ta đi tìm người yêu

- Sông dài cá lội bịêt tăm

Phải duyên chồng vợ trăm năm cũng chờ

- Tiến quân ca

3. Hãy viết cho hoàn chỉnh các câu văn sau đây:

- Vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn đời thì……………………………………..(Đôi mắt  -Nam Cao )

- Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu ……………..(Vợ nhặt – Kim Lân)

- Mỗi ngày Mỵ càng không nói,…………………………………..(Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài)

MẪU BÀI TẬP SỐ 2 Ở TRẠM RỪNG XÀ NU

I. PHẦN TRẮC NGHIỆM:

1.” Ai giàu ba họ ai khó ba đời” là câu nói của

a. Đào                         b. Tràng                       c. Cụ Tứ                      d. Thị

2. “Gọn bề gia thế, đặng bề nước non” là câu nói của

a. Ba Việt                     b. Má Việt                    c. Chị Chiến                d. Chú Năm

3. “Vớt bèo thì ngứa, xay lúa nhức đầu” là câu nói của

a. Đào                         b. Duệ                         c. Huân                        d. Lâm

4. “Tháng này sang tháng khác chỉ làm bạn với đường với trăng thôi” là câu nói của

a. Chị Tính                   b. Lãm                         c. Nguyệt                     d. Nguyệt “lão”

5. “Em không yêu, quả pao rơi rồi…”là câu hát của

a. Mỵ                            b. Chị dâu Mỵ              c. A Sử                        d. A Phủ

6. “Tôi gần gũi họ rất nhiều. Tôi gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát…” là câu nói của

a. Độ                           b. Hoàng                      c. Vợ Hoàng                d. Tất cả đều sai

7. “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo” là câu nói của

a. Anh Quyết               b. Tnú                          c. Cụ Mết                     d. Dít

8. Tuổi của Đào và tuổi của Huân

a. 32 – 28                     b. 35 – 25                     c. 30 – 28                     d. 28 – 25

9. Tuổi của Việt khi giành đi bộ đội là

a. 17                            b. 18                            c. 19                            d. 20

10. Ông đò xuôi ngược sông Đà hơn

a. 60 lần                      b. 80 lần                      c. 100 lần                    d. Tất cả đều sai

II. PHẦN CÂU HỎI:

1. Hãy tìm chủ nhân các món đồ thất lạc sau đây:

- Cái nón trắng.

- Cái khăn vải kẻ ô vuông

- Chiếc lá

- Cái khăn mù – xoa

- Quyển sách Tam Quốc chí

- Cái áo màu lụa bạch

- Cây tiêu

- Cái kiếng

- Cái đòn gánh

2. Sắp xếp cho đúng tên thật và bút danh của các tác giả sau đây:

Tên thật: Nguyễn Văn Báu, Bùi Đình Dậu, Nguyễn Sen, Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Hoàng Ca, Phan Ngọc Hoan, Nguyễn Kim Thành, Bùi Tằng Việt, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Mạnh Khải.

Bút danh: Tô Hoài, Chế Lan Viên, Nguyễn Thi, Kim Lân, Nguyễn Trung Thành, Tố Hữu, Hoàng Cầm, Nguyễn Khải, Hồ Chí Minh, Quang Dũng.

3. Viết hoàn chỉnh các câu văn sau đây:

- Những dòng những chữ trong bức thư xa lạ cứ như…………………(Mùa lạc- N. Khải)

- Nói như Nguyên Hồng, ông là một nhà văn một lòng đi về với …………………………..

                                                                        (Trích tiểu dẫn giới thiệu Kim Lân)

BÀI TẬP SỐ 3 Ở TRẠM MẢNH TRĂNG CUỐI RỪNG

I. PHẦN TRẮC NGHIỆM:

1. Nhà giam Tố Hữu năm 1939 ?

a. Thừa Phủ                b. Thừa Thiên             c. Thừa Tâm               d. Tất cả đều sai

2. Tây Tiến thành lập năm:

a. 1946                        b. 1947                        c. 1948                        d. 1949

3. Sông Đuống là một nhánh của sông

a. Thiên Đức               b. Bắc Ninh                 c. Đà                           d. Hồng

4. ” Đất Nước” thuộc chương….. của “Mặt đường khát vọng”:

a. 2                              b. 3                              c. 4                              d. 5

5. “Kính gửi cụ Nguyễn Du” trích từ tập….. của Tố Hữu

a. Việt Bắc                   b. Gió lộng                   c. Ra trận                    d. Máu và hoa

6. “Việt Bắc” sáng tác năm

a. 1946                        b. 1954                        c. 1960                        d. Tất cả đều sai

7. “Tàu” trong “Tiếng hát con tàu” là

a. Tàu thủy                  b. Tàu hỏa                   c. Tàu bay                   d. Tất cả đều sai

8. “Sóng” rút ra từ

a. Tơ tằm chồi biếc     b. Hoa dọc chiến hào  c. Tự hát                     d. Tất cả đều sai

9. Huy Cận ấp ủ “Các vị La Hán chùa Tây Phương” trong…..năm kể từ năm 1940

a. 10                            b. 15                            c. 18                            d. 20

10. Trong “Kính gửi cụ Nguyễn Du”, Nguyễn Du quê ở

a. Tiên Điền                 b. Nghi Xuân                c. Hà Tĩnh                    d.Tất cả đều đúng

II. PHẦN CÂU HỎI:

1. Những đôi mắt sau đây là của ai:

- Mắt bị thương

- Mắt bồ câu nửa vui nửa buồn

- Mắt mở to bình thản trong suốt

- Mắt đen láy ngây thơ

- Mắt thồi lồi

- Mắt nhỏ tí gà gà đắm vào bóng chiều

- Mắt có đôi lông mày cau lại

- Mắt rất lớn

- Mắt hẹp và dài

- Mắt mở to, đọng nước.

2. Hãy sắp xếp tác phẩm, tác giả, năm sáng tác…cho đúng:

Tác phẩm: Kính gửi cụ Nguyễn Du, Mùa lạc, Vợ nhặt, Đất nước, Những đứa con trong gia đình, Đất nước, Tây Tiến, Vợ chồng A Phủ, Tiếng hát con tàu, Đôi mắt.

Tác giả: Nguyễn Thi, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Khoa Điềm, Chế Lan Viên, Nam Cao, Kim Lân, Tố Hữu, Quang Dũng, Tô Hoài.

Năm sáng tác: 1971, 1948, 1952, 1959, 1966, 1955, 1965, 1960, 1945, 1948.

3. Viết hoàn chỉnh các câu văn sau đây:

- Người ta sinh ra tự do…………………………………..(Tuyên ngôn độc lập- Hồ Chí Minh)

- Trong tâm hồn người con gái nhỏ bé…(Mảnh trăng cuối rừng – Nguyễn Minh Châu)

           

BÀI TẬP SỐ 4 Ở TRẠM NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH

I. PHẦN TRẮC NGHIỆM: (bài Khái quát VHVN giai đoạn 1945 – 1975)

1. “Đọc truyện của anh em bây giờ tôi chú ý đến bộ mặt con người Việt Nam thì thấy nó giàu có một cách lạ lùng” là câu nói của

a. Tố Hữu        b. Nguyên Hồng                     c. Tô Hoài        d. Hoàng Cầm

2. “Đó là một nền văn học tươi trẻ, đầy sức sống, chắt lọc từ sức sống mãnh liệt yêu đời của nhân dân” là câu nói của

a.NamCao     b. Tố Hữu                               c. Bùi Hiển       d. Nguyễn Khải

3. “Những người cầm bút ở lứa tuổi chúng tôi có một thời vận khá đặc biệt. Chúng tôi hầu như lọt gọn vào cuộc chiến trường kỳ kéo dài tới ba thập kỷ” là câu nói của

a. Nguyễn Thi              b. Anh Đức      c. Nguyễn Quang Sáng          d. Nguyễn Tuân

4.”Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi

    Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu

    Tôi sống với cuộc đời chiến đấu

    Của triệu người yêu dấu gian lao” là thơ của

a. Huy Cận                  b.Chế Lan Viên           c. Tế Hanh                  d. Xuân Diệu

5. ” Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” là câu nói của

a. Hồ Chí Minh b. Trường Chinh         c. Phạm Văn Đồng     d. Tố Hữu

II. PHẦN CÂU HỎI:

1. Tìm xem những bộ quần áo sau đây là của nhân vật nào

- Áo bà ba dài phết đít

- Áo nâu tàng

- Áo cánh trắng

- Bộ quần áo ngủ màu xanh nhạt

- Áo rách như là tổ đỉa

- Chiếc váy hoa

- Quần nái đen, áo the màu gụ

- Áo xanh chít hông, quần lụa đen chấm mắt cá

- Chiếc áo dài màu gạch

- Áo bà ba đẫm mồ hôi đã đen lại không còn thấy bạc nữa

2. Tìm xem những con vật sau đây nằm trong tác phẩm nào

- Con rận

- Con cọp

- Con công

- Con ếch

- Con ngựa

- Con chắt

- Con gà sống

- Con tép diu

- Con trâu

- Con cá anh vũ

3. Viết cho hoàn chỉnh những câu văn sau đây:

- Con sông Đà tuôn dài……………………………….(Người lái đò sông Đà- Nguyễn Tuân)

- Cạnh một cây xà nu mới ngã gục…………………(Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành)

- Con ngựa, con trâu làm còn có lúc……………………………(Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài)

DANH MỤC TƯ LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Văn Long – Trần Đăng Xuyền – Tư liệu Văn 12 – Phần văn học Việt Nam – Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội – 1998.

2.  Hoàng Như Mai- Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) – Văn học 12tập 1Sách giáo viênPhần văn học Việt Nam – Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội – 2000.

3. Hoàng Như Mai- Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) – Văn học 12tập 1 – Phần văn học Việt Nam – Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội – 2000.

4. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) – Ôn tập văn học 12 – Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội – 1999.

5. Tạp chí văn học và tuổi trẻ – Đặc san ra hàng tháng của nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội

 

 

 

 

 

 

MỤC LỤC

I.Phần dẫn nhập…………………………………………………………………………………….trang 1

            1.Lý do chọn đề tài………………………………………………………………………trang 1

            2. Phạm vi nghiên cứu thực hiện……………………………………………………trang 1

            3. Kết cấu của đề tài…………………………………………………………………….trang 2

II. Phần nội dung……………………………………………………………………………………trang 2

            1. Phần chuẩn bị………………………………………………………………………….trang 2

            2. Phần thực hiện………………………………………………………………………..trang 5

            3. Phần tổng kết rút kinh nghiệm……………………………………………………trang 9

III. Phần kết luận…………………………………………………………………………………….trang 9

            Phần phụ lục……………………………………………………………………………..trang 10

            Tư liệu tham khảo………………………………………………………………………trang 14

                                                                        ĐHAG, ngày 27 tháng 5 năm 2002

                                                                                    Người viết

                                                                                    Trần Tùng Chinh

 

Posted by Hoài Ngọc


[1] Khi học sinh đọc mật thư sẽ nhận ra những thông tin nêu trong mật thư nằm trong tác phẩm nào, từ đó các em sẽ dễ dàng xác định được đường di chuyển để đi từ trạm này đến trạm khác. Chú ý, vì khuôn viên một số trường còn hẹp, buộc lòng mật thư phải cố tình vẽ ra một con đường đi vòng cho khoảng cách giữa các trạm sẽ dài ra và hấp dẫn hơn. Vì vậy để tránh tình trạng các đội vi phạm luật chơi cố tình đi đường tắt để đến nhanh hơn mà không theo sát hướng dẫn trong mật thư, giáo viên sẽ bố trí một số thành viên trong tổ bộ môn đứng giữa những cuộc hành trình, trao một tín vật nào đó cho Đội trưởng để chuyển tới người đứng trực ở trạm như là cách thông báo cho biết rằng cả đội đã đi đúng hướng dẫn ở mật thư. Ở mật thư số 1 này, tín vật đó là một gói đậu phộng như chi tiết trong tác phẩm Mùa lạc (ngoài ra, các đội còn sẽ nhận sợi chỉ xanh trên đường tới trạm Mảnh trăng cuối rừng, một lá cờ giải phóng trên đường tới trạm Những đứa con trong gia đình, một yêu cầu thu nhặt một số giáo mác trên đường đi để đến nộp cho người trực ở trạm Rừng Xà nu)

[2] Ví dụ: Nhóm 1: Vào những năm đói kém khủng khiếp – Nhóm 2: Tại một xóm ngụ cư ở nông thôn miền Bắc – Nhóm 3: Anh nông dân Tràng nghèo khổ – Nhóm 4: Đã đưa một người đàn bà về làm vợ.

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s