MỘT ĐỀ XUẤT VỀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM


—Ths. Trần Tùng Chinh

           I. MỘT SỐ THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN:

  1. 1.     Thuận lợi:

-         Đây là một bộ phận văn học khá quen thuộc với đối tượng – người học do sinh viên đã được tiếp cận ở chương trình Trung học cơ sở và Trung học phổ thông. Vì vậy, người học đã có được ít nhiều những kiến thức làm nền tảng cần thiết để tiếp thu những kiến thức có tính chuyên sâu.

-         Sinh viên có ý thức đây là môn học đi vào chuyên ngành Ngữ văn. Trong tương lai, sinh viên sẽ trực tiếp giảng dạy 14 tiết ở chương trình lớp 10 Trung học phổ thông[1]. Điều này sẽ tạo nên động cơ học tập thuận lợi hơn.

-         Tài liệu tham khảo cho học phần này khá phong phú.

  1. 2.     Khó khăn:

Về phương pháp học của sinh viên:

-         Đối tượng của học phần này là sinh viên năm thứ nhất nên hầu hết vẫn chưa quen với phương pháp tự học (nếu có thì vẫn chưa thật sự hợp lý).

-         Đa số ghi chép bài một cách thụ động, ít đặt câu hỏi xoay quanh các vấn đề đã học để tiếp thu bài chủ động hơn.

-         Một số nhút nhát và sợ nói trước đám đông gây khó khăn cho hình thức thuyết trình

-         Lười suy nghĩ, thường chỉ đơn giản hiểu theo cách hiểu của giáo viên, thiếu tự tin khi đưa ra một cách hiểu mới, thậm chí trái với cách hiểu của thầy cô (E ngại về điểm thi, về kết quả thi)

-         Chưa biết cách xử lý tài liệu tham khảo (Bối rối trước khối lượng tài liệu tham khảo văn học dân gian quá lớn).

-         Một số sinh viên có trình độ đầu vào thấp (Nhất là đối tượng được hưởng điểm ưu tiên ở các vùng sâu, vùng xa…)

Về điều kiện giảng dạy của giáo viên:

-         Không có khả năng tái hiện lại “hoàn cảnh diễn xướng” của văn học dân gian cho sinh viên tiếp cận sát hợp với đặc trưng của văn học dân gian.

-         Nguồn tư liệu hình ảnh, băng từ, phim, đĩa… về văn học dân gian còn hạn chế.

-         Giáo viên chưa chủ động trong việc điều chỉnh thời khóa biểu (theo từng chương bài, cần linh hoạt thay đổi số tiết trong tuần để sinh viên đáp ứng kịp thời những yêu cầu của giáo viên).

II. MỘT VÀI BIỆN PHÁP CẢI TIẾN VÀ ĐỔI MỚI ĐÃ THỰC HIỆN:

          1. Hướng dẫn sinh viên xử lý tài liệu tham khảo:

Bước 1:

Giáo viên hoặc tự cập nhật hoặc kết hợp với cán sự bộ môn, cung cấp cho sinh viên danh mục tài liệu tham khảo.

Bước 2:

Giúp sinh viên phân loại tư liệu. Tư liệu tham khảo dành cho học phần này có thể chia làm hai loại chính: Loại tác phẩm sưu tầm (kể cả các dị bản) và loại các công trình nghiên cứu về văn học dân gian.

Bước 3:     

Đối với loại tư liệu sưu tầm, giáo viên có thể hướng dẫn cho sinh viên cách đọc và ghi chép thành phiếu và dùng phong bì để sắp xếp theo chủ đề hoặc theo các công thức truyền thống (đối với các tác phẩm có phương thức phản ánh trữ tình) và tóm tắt theo thể loại, theo các motip quen thuộc (đối với các tác phẩm có phương thức phản ánh tự sự).

Đối với loại tư liệu nghiên cứu, giáo viên có thể hướng dẫn cho sinh viên cách đọc – tóm tắt ý chính; đọc – ghi chép lại các nhận định, đánh giá; đọc – chọn lọc dẫn chứng theo các luận điểm có sẵn; đọc – đánh dấu các phần khó hiểu hoặc các phần quan trọng để trao đổi, thảo luận.

Bước 4:

Giáo viên nêu vấn đề để sinh viên đọc tư liệu tham khảo hiệu quả hơn. Để sinh viên có được sự chủ động trong quá trình tiếp thu kiến thức, giáo viên có thể nêu vấn đề từ thấp đến cao nhằm gợi cho sinh viên động não, suy nghĩ, nhận xét, đối chiếu, so sánh từ đó đưa ra những ý kiến cụ thể sát hợp với yêu cầu

Ví dụ dưới đây là một số vấn đề được nêu ra trước khi giáo viên dạy phần một của bài khái quát văn học dân gian (tất nhiên là các tài liệu đọc tham khảo đã được giới thiệu)

  1. 1.     Sinh viên thử giải thích các khái niệm Văn chương bình dân, văn học bình dân, văn chương đại chúng, văn học đại chúng, văn chương truyền khẩu, văn chương truyền miệng, văn học truyền miệng… trả lời vì sao các khái niệm ấy hiện nay không được sử dụng phổ biến trong giới nghiên cứu.
  2. 2.     Sinh viên thử phân biệt điểm giống và khác nhau của ba thuật ngữ văn hóa dân gian, văn nghệ dân gian và văn học dân gian . Cho ví dụ so sánh.
  3. 3.     Sinh viên có thể so sánh các cách định nghĩa về văn học dân gian, tìm ra những chỗ tương đồng và khác nhau. Sau đó, hình dung ra cách thức giải thích hợp lý cho định nghĩa của sách giáo khoa THPT để có thể truyền đạt cho đối tượng học sinh lớp 10 một cách dễ hiểu mà chính xác nhất.
  4. 4.     Từ việc tìm hiểu văn học dân gian là gì, hãy thử phân biệt sự khác nhau giữa văn học dân gian và văn học viết ?

Lưu ý trong quá trình hướng dẫn sinh viên đọc để đưa ra những nhận xét, suy nghĩ của mình, giáo viên cần ghi nhận những ý kiến của sinh viên để hệ thống, sắp xếp lại, từ đó đưa ra những kết luận có tính định hướng và nâng cao. Tuy nhiên, giáo viên cũng lưu ý ghi nhận những khám phá, phát hiện của sinh viên về các vấn đề đang còn được tranh luận trong giới nghiên cứu khoa học, những vấn đề chưa chính xác, còn thiếu tính cập nhật những thông tin mới hoặc còn sai lệch để cùng với sinh viên trao đổi, bàn bạc, điều chỉnh, góp ý….

          2. Hướng dẫn sinh viên làm tiểu luận kết hợp với thuyết trình và thảo luận:

Bước 1:

Giáo viên soạn ra một danh mục đề tài có liên quan đến học phần mình đang phụ trách (Ở công việc này, giáo viên có thể khuyến khích sinh viên tự tìm kiếm đề tài tâm đắc rồi góp ý thêm cho hoàn chỉnh). Sau đó, giáo viên cùng trao đổi với cả lớp để sinh viên tự chọn cho mình một đề tài thích hợp.

Đi kèm với danh sách các đề tài là danh mục tài liệu tham khảo cụ thể cho việc chuẩn bị làm đề tài Sau khi sinh viên lựa chọn đề tài, giáo viên có thể cân đối lại cho đều ở những đề tài quá nhiều người chọn cũng như những đề tài không có người đăng ký thực hiện. Giáo viên gia hạn thời gian chuẩn bị ít nhất là hai tuần.

Bước 2:

Giáo viên hướng dẫn cho sinh viên làm đề cương (hay làm dàn bài). Để tạo điều kiện cho sinh viên thực hiện tốt hơn đề cương, giáo viên có thể hướng dẫn một dàn bài tiểu luận mẫu ở dạng khái quát. Sinh viên sẽ làm đề cương cụ thể (những luận điểm sẽ khai triển trong đề tài tiểu luận của mình sẽ là gì ? Hướng khai thác vấn đề sẽ đi theo tiêu chí nào ? Nguồn tư liệu nào sẽ sử dụng ?). Sinh viên có thể gặp giáo viên để trao đổi và được hướng dẫn thêm về cách thức và nội dung thực hiện đề tài.

Bước 3:

Sinh viên tự làm việc, tự nghiên cứu (Thu thập tư liệu, trao đổi tư liệu và sách tham khảo với bạn bè, phác họa đề cương khái quát, làm đề cương chi tiết, gặp giáo viên để hoàn chỉnh đề cương, bắt tay viết thành bài tiểu luận – ít nhất là 4 trang giấy A4, sửa chữa, trao đổi với bạn bè để được góp ý cho hoàn chỉnh hơn, đọc đi đọc lại nhiều lần, tập nói trước dựa theo đề cương để chuẩn bị thuyết trình….)

Bước 4:

Giáo viên chọn bài thuyết trình theo các hình thức hoặc dựa theo sự phân bố đồng đều các đề tài, hoặc phân công theo tổ với tính chất thi đua, hoặc tạo điều kiện cho sinh viên giỏi thực hiện cho các bạn khác học tập và sinh viên còn nhút nhát thuyết trình để có cơ hội luyện tập nâng cao khả năng thuyết giảng trước đám đông (phục vụ cho công tác giảng dạy sau này).

Giáo viên tổ chức thuyết trình kết hợp với thảo luận để vừa thay đổi không khí vừa tạo cơ hội cho sinh viên trình bày ý kiến (đóng góp bổ sung, trình bày thắc mắc, trao đổi và tranh luận để nảy sinh những ý tưởng mới...). Chú ý theo dõi tổ chức buổi học cho thật sinh động: Sinh viên thuyết trình (sinh viên chỉ được phép trình bày thuyết giảng không được phép đọc một cách máy móc phần chuẩn bị của mình); sinh viên nghe – ghi chép – đặt câu hỏi; sinh viên hỏi – đáp – thảo luận trao đổi ý kiến qua lại; giáo viên làm thư ký ghi nhận lại để nêu nhận xét đúc kết sau mỗi một đề tài được trình bày (Về phong cách sư phạm, về dàn bài và cách trình bày bảng, về nội dung và kết quả tranh luận; đánh giá bằng điểm số…).

Bước 5:

          Nhân bản bài thuyết trình xuất sắc (pho to) cho sinh viên giữ làm tư liệu mở rộng thêm kiến thức từ phần trình bày của chính bạn bè mình. Giáo viên có thể biên tập để giới thiệu ở Thông tin khoa học (và các tạp chí chuyên ngành nếu bài viết đạt chất lượng cao) và cuối cùng có thể đưa vào phần sinh hoạt ngoại khóa cuối học phần.

3. Tổ chức hình thức học ngoại khóa:

          Để có một chương trình ngoại khóa thành công, giáo viên và sinh viên phải chuẩn bị ngay từ những tiết học đầu tiên. Thời điểm thích hợp để tổ chức ngoại khóa là khi sinh viên đã học hơn hai phần ba chương trình của học phần.

          Về hình thức:

Đó là một buổi báo cáo lại toàn bộ quá trình chuẩn bị của thầy và trò ở từng thể loại văn học dân gian. Cách tốt nhất để chương trình đạt chất lượng là tổ chức như hình thức một cuộc thi lớn giữa các lớp về nhiều thể loại . Tính chất thi đua sẽ tạo nên yếu tố hấp dẫn cần thiết của chương trình.

          Về nội dung:

  1. Thi kể chuyện: Khi học đến các thể loại dân gian theo phương thức phản ánh tự sự (Thần thoại, truyền thuyết, cổ tính, truyện cười, truyện ngụ ngôn…), giáo viên tổ chức cho sinh viên kể chuyện (Lúc chuyển tiết, lúc thay đổi không khí học) để từ đó chọn lọc những sinh viên có năng khiếu kể chuyện tham gia phần thi này.
  2. Thi kể chuyện thành ngữ – tục ngữ: Sinh viên lắp ghép các thành ngữ – tục ngữ dân gian thành một câu chuyện có ý nghĩa.
  3. Thi hát và múa dân ca; thi hò và đố vè: Dựng lại hoàn cảnh diễn xướng của tác phẩm văn học dân gian (kết hợp với đạo cụ, trang phục, diến xuất…). Trước đó, giáo viên đã cho sinh viên nghe và xem băng, đĩa về thể loại này.
  4. Thi sáng tác ca dao mới (Có thể phần thi này sẽ dành cho khán giả đến xem chương trình): Ban tổ chức sẽ ra đề theo những công thức truyền thống quen thuộc của ca dao.
  5. Thi bình ca dao và thi hùng biện: Bình những bài ca dao hay hoặc sử dụng những bài thuyết trình có chất lượng để đưa vào phần thi này.
  6. Thi đố vui về những kiến thức văn học dân gian: Sinh viên sẽ là người biên soạn câu hỏi và đáp án cho phần thi này và sử dụng để đố giao lưu giữa các đội. Khi chuẩn bị, sinh viên sẽ tiếp cận với tư liệu và kiến thức nhiều và sâu hơn.
  7. Thi diễn tiểu phẩm văn học dân gian: Sinh viên tự chuyển thể các tác phẩm văn học dân gian (đặc biệt là chương sân khấu dân gian) và phân vai biểu diễn các tác phẩm ấy (Ví dụ “Nghêu Sò Ốc Hến”, Xã trưởng Mẹ Đốp” hoặc các truyện cười, truyện cổ tích dân gian…)

III. KẾT LUẬN:

Phương pháp nêu trên chưa thể gọi là tối ưu cũng không phải hoàn toàn mới, tuy nhiên so với lối dạy cũ thì đây là sự cố gắng cải tiến của người dạy. Thực tế, qua hai năm thực hiện (và luôn bổ sung cũng như điều chỉnh) chúng tôi chưa thể lấy kết quả thi hết học phần của sinh viên để đánh giá phương pháp này (vì học để thi đạt kết quả cao còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cách ra đề của giáo viên, cách diễn đạt trình bày của sinh viên). Tuy nhiên có một điều chắc chắn rằng sinh viên đã học tập học phần này một cách hứng thú và tự giác hơn. Bên cạnh đó, sinh viên cũng được trang bị một số phương pháp tích cực để sau này ứng dụng vào thực tế giảng dạy phổ thông trong tương lai.

          Trên đây chỉ là một trong số rất nhiều những phương pháp giảng dạy cải tiến và đổi mới. Phần trình bày của chúng tôi chỉ có tính chất tham khảo, bởi lẽ việc thực hiện trên thực tế còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như phong cách giảng dạy của giáo viên, trình độ tiếp thu và tâm lý của đối tượng sinh viên ở từng lớp, đặc trưng bộ môn phụ trách… Rất mong sự trao đổi, đóng góp chân tình của quý đồng nghiệp sẽ giúp chúng tôi rút thêm được nhiều kinh nghiệm để giảng dạy tốt hơn.

TTC

Posted by Hoài Ngọc


[1] Nguyễn Đình Chú – Nguyễn Lộc chủ biên – Văn học 10 – tập 1 – NXBGD – H – 2000

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s